HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH(Đại tràng co thắt)

Hội chứng ruột kích thích là gì?

Hội chứng ruột kích thích (tên tiếng Anh là irritable bowel syndrome-IBS) là hiện tượng ruột bị rối loạn chức năng, tái đi tái lại nhiều lần mà khi người bệnh đi khám, làm các xét nghiệm đều không tìm thấy các tổn thương về giải phẫu cũng như tổ chức sinh hoá ở ruột. Ở Việt Nam, hội chứng ruột kích thích còn được biết đến với tên gọi viêm đại tràng co thắt, viêm đại tràng chức năng hoặc viêm đại tràng mãn tính.

Đây là một trong những bệnh đường ruột phổ biến nhất với tỷ lệ mắc từ 5-20% dân số, tuỳ thuộc vào vùng dân cư. Hội chứng này lành tính, tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng lại có tác động lớn ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Nguyên nhân bệnh Hội chứng ruột kích thích

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra kết luận về nguyên nhân chính xác gây nên hội chứng ruột kích thích. Nhưng rất nhiều yếu tố liên quan mật thiết đến bệnh đã được xác định:

  • Stress: trạng thái căng thẳng thần kinh do suy nghĩ, lo âu quá nhiều khiến các triệu chứng xuất hiện hoặc biểu hiện nặng hơn.
  • Thực phẩm: hội chứng ruột kích thích có thể xuất hiện khi ăn một số thực phẩm nhất định. Điều này tùy thuộc vào cơ địa của mỗi người.
  • Nhiễm khuẩn đường tiêu hoá.
  • Tác dụng phụ khi sử dụng kháng sinh.
  • Sự thay đổi nồng độ hormone trong chu kỳ kinh nguyệt.
  • Yếu tố di truyền.

Triệu chứng bệnh Hội chứng ruột kích thích

Triệu chứng hội chứng ruột kích thích bao gồm các thể chính: đau bụng, táo bón và tiêu chảy.

  • Đau bụng: Đau không có đặc điểm gì cụ thể, không có vị trí nhất định, có thể đau dọc khung đại tràng, đau nhiều hơn sau khi ăn hoặc đôi khi chưa ăn xong đã có cảm giác đau, khi ăn thức ăn lạ, thức ăn để lâu. Nhiều trường hợp cũng có thể đau do lạnh bụng. Cảm giác đau có thể chỉ diễn biến 1-2 ngày nhưng cũng có thể kéo dài nhiều ngày triền miên, một tháng có thể đau vài lần nhưng cũng có người bệnh nhiều tháng mới đau một lần.
  • Táo bón và tiêu chảy: Phân táo thường kèm theo nhầy bọc ngoài phân. Một điểm cần lưu ý là phân trong trường hợp này không bao giờ lẫn máu, nếu có thì chắc chắn không phải là hội chứng ruột kích thích.

Ngoài các triệu chứng chính kể trên, các rối loạn khác có thể gặp phải là:

  • Bụng đầy hơi, cảm giác nặng bụng.
  • Nhức đầu.
  • Mất ngủ.
  • Trung tiện nhiều, cảm giác đi chưa hết phân.

Các triệu chứng này không đặc hiệu và thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào chế độ ăn uống. Chẳng hạn, khi ăn các thức ăn không phù hợp sẽ xuất hiện các triệu chứng rối loạn tiêu hóa ngay lập tức, nếu kiêng khem thì các triệu chứng sẽ biến mất.

Vì vậy các chuyên gia khuyến cáo khi có các biểu hiện trên, bệnh nhân cần đến các cơ sở y tế để được khám và làm các xét nghiệm cần thiết, xác định bệnh để được điều trị kịp thời.

Đối tượng nguy cơ bệnh Hội chứng ruột kích thích

Các đối tượng có nguy cơ cao mắc hội chứng ruột kích thích bao gồm:

  • Những người dưới tuổi 45.
  • Những người thường xuyên lo âu, trầm cảm hoặc trong trạng thái tinh thần không ổn định.
  • Nữ giới có khả năng mắc hội chứng ruột kích thích cao hơn nam giới hai lần.
  • Những người có tiền sử gia đình mắc các bệnh về đường ruột.

Hội chứng ruột kích thích ở trẻ em cũng đang ngày càng phổ biến. Áp lực từ việc thi cử hoặc trầm cảm vì các yếu tố gia đình, xã hội có thể khiến trẻ bị căng thẳng dẫn tới hội chứng ruột kích thích.

Phòng ngừa bệnh Hội chứng ruột kích thích

Vì nguyên nhân gây hội chứng ruột kích thích vẫn chưa rõ ràng nên chưa có nguyên tắc chuẩn mực nào để phòng tránh. Tuy nhiên, có thể thực hiện các phương pháp sau để giảm thiểu nguy cơ:

  • Có chế độ ăn uống khoa học: Cố gắng ăn vào thời gian cố định trong ngày và không bỏ bữa.
  • Bổ sung thực phẩm nhiều chất xơ như rau củ quả.
  • Tránh các thực phẩm nhiều chất béo, dầu mỡ, thực phẩm khó dung nạp lactose, thực phẩm cay.
  • Uống nhiều nước.
  • Tránh các đồ uống có ga và các chất kích thích như rượu, bia, cà phê.
  • Không ăn thức ăn để lâu hoặc điều kiện bảo quản không tốt.
  • Không ăn thức ăn khó tiêu, dễ gây đầy hơi: khoai, sắn, bánh ngọt nhiều bơ, hoa quả nhiều đường như cam, quýt, xoài, mít.
  • Sử dụng thuốc tiêu chảy và thuốc nhuận tràng theo kê toa của bác sĩ.
  • Tập thể dục thường xuyên, cố gắng có những vận động thể chất ít nhất 30 phút mỗi ngày.
  • Luyện tập thư giãn, không để bị trầm cảm, lo lắng quá mức.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Hội chứng ruột kích thích

Do các triệu chứng không đặc hiệu, hội chứng ruột kích thích được chẩn đoán chủ yếu bằng phương pháp loại trừ. Muốn vậy, bác sĩ cần làm đầy đủ các thăm dò và xét nghiệm sau:

  • Xét nghiệm phân.
  • Chụp khung đại tràng.
  • Soi trực tràng và đại tràng.
  • Sinh thiết trực tràng hoặc đại tràng.

Các biện pháp điều trị bệnh Hội chứng ruột kích thích

Để trị dứt điểm hội chứng ruột kích thích chế độ ăn uống sinh hoạt là rất quan trọng. Trước tiên cần kiêng khem những thức ăn dễ gây dị ứng như tôm, cua, cá và những thức ăn khó tiêu, dễ sinh hơi như khoai lang,… Đa số người mắc rối loạn cơ năng đại tràng hay hội chứng ruột kích thích thường bị thiếu lactase (là enzyme phân giải đường lactose) nên cần tránh các loại thức ăn có loại đường này.

Đối với người bị táo bón thì cần bổ sung thực phẩm chống táo, đối với người bị tiêu chảy thì có thể sử dụng các thức ăn đặc dễ tiêu. Khi ăn cần phải nhai kỹ, ăn từ từ, không nên ăn quá no.

Luyện tập đi ngoài ngày một lần vào buổi sáng, có thể xoa bóp bụng trước khi đi ngoài để kích thích gây cảm giác đi ngoài.

Bên cạnh đó, có thể dùng các thuốc điều trị hội chứng ruột kích thích cụ thể với từng triệu chứng:

  • Chống đau: dùng các thuốc chống co thắt loại hướng cơ như Spasfon, Duspatalin,…
  • Chống táo bón: dùng các thuốc nhuận tràng như Forlax, Duphalac, Tegaserod,…
  • Chống ỉa chảy: Smecta, Imodium, Actapulgite,…
  • Chống sinh hơi: Meteospasmyl, Pepsane,…
  • Thuốc an thần: Rotunda, Seduxen, Dogmatil,…
  • Thuốc triệt khuẩn ruột: tuy vi khuẩn không đóng vai trò quan trọng trong bệnh này nhưng ít nhiều có tham gia, tạo nên vòng luẩn quẩn. Tiêu chảy và táo bón đều tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, khi vi khuẩn phát triển mạnh mẽ sẽ làm tăng tiêu chảy và trướng bụng

Viêm LOÉT ĐẠI TRỰC TRÀNG CHAY MÁU

Viêm loét đại trực tràng chảy máu là bệnh về đường tiêu hóa hay gặp. Bệnh gây tổn thương lan tỏa lớp niêm mạc và dưới niêm mạc, vị trí chủ yếu là ở trực tràng và giảm dần cho đến đại tràng.

Do viêm loét đại trực tràng có các biểu hiện giống như bệnh thông thường khác nên người bệnh thường chủ quan nhập viện muộn khiến cho việc điều trị khó khăn. Chính vì vậy việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời là điều vô cùng cần thiết để tránh gây các biến chứng nguy hiểm.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu là bệnh viêm mạn tính, có tính chất tự miễn, gây loét và xuất huyết đại tràng, làm tổn thương lan tỏa lớp niêm mạc và dưới niêm mạc, vị trí chủ yếu ở trực tràng và giảm dần cho đến đại tràng phải.

  1. Nguyên nhân gây viêm loét đại trực tràng

Đại tràng là đoạn cuối của đường tiêu hóa, là nơi hình thành và chứa đựng phân trước khi bài xuất ra ngoài cơ thể. Đại tràng bao gồm: manh tràng là đoạn nối với đoạn cuối ruột non, tiếp đến là đại tràng lên (đại tràng phải), đại tràng góc gan, đại tràng ngang, đại tràng góc lách, đại tràng xuống (đại tràng trái), đại tràng sigma, trực tràng và cuối cùng là hậu môn.

Nguyên nhân viêm loét đại trực tràng đến nay cũng chưa rõ, nhưng bệnh có liên quan tới quá trình đáp ứng miễn dịch. Viêm loét đại tràng chảy máu và bệnh Crohn được gọi chung là nhóm bệnh viêm ruột (Inflammatory Bowel Disease – IBD). Bệnh lúc đầu có thể chỉ khu trú tại trực tràng, về sau lan dần vào trong, tổn thương có thể toàn bộ đại tràng, đôi khi có thể lan cả sang một phần của đoạn cuối ruột non.

Nam và nữ đều có thể mắc bệnh như nhau và thường gặp ở người trong khoảng 15-30 tuổi và 60-70 tuổi.

  1. Chẩn đoán bệnh viêm đại trực tràng chảy máu

Để có thể đưa ra hướng điều trị tốt nhất, bác sĩ cần chắc chắn rằng bạn đang mắc phải bệnh viêm đại trực tràng chảy máu dựa vào các phương pháp chẩn đoán:

3.1. Chẩn đoán lâm sàng

Đối với bệnh viêm đại trực tràng chảy máu, bác sĩ thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng mà người bệnh gặp phải để đưa ra chẩn đoán ban đầu. Đau bụng, đại điện phân có nhầy máu sẽ là dấu hiệu đầu tiên mà bệnh gây ra.
Tuy nhiên, khi bệnh diễn biến phức tạp hơn, người bệnh có khi đại tiện chỉ toàn nhầy máu mà không có phân. Đôi khi, người bệnh còn gặp phải triệu chứng sốt, protein máu giảm gây cảm giác mệt mỏi.

Khi bệnh trở nên nghiêm trọng, bệnh nhân thường đại tiện có máu hơn 6 lần 1 ngày, diễn ra nhiều hơn vào ban đêm. Một số biểu hiện đi kèm như huyết áp hạ, nhịp tim nhanh, sốt cao, bụng trướng.

3.2. Chẩn đoán cận lâm sàng

Để kết luận chính xác bệnh thì dựa vào những triệu chứng lâm sàng là chưa đủ, một số phương pháp cận lâm sàng có thể sẽ được bác sĩ chỉ định.
=> Nội soi toàn bộ đại trực tràng

Việc nội soi và quan sát hình ảnh nội soi sẽ giúp bác sĩ phân loại được từng giai đoạn của bệnh.

  • Giai đoạn 0: niêm mạc thường nhạt màu, các mạch máu dưới niêm mạc mỏng hơn so với bình thường.
  • Giai đoạn 1: niêm mạc sần sùi, chỉ nhìn thấy 1 phần mạch máu.
  • Giai đoạn 2: niêm mạc bị mất nếp ngang, xuất hiện các ổ loét, dễ chảy máu khi đèn chạm phải.
  • Giai đoạn 3: niêm mạc bị phù nề, xung huyết, xuất hiện các ổ loét lớn, chảy máu niêm mạc tự phát.

 

bác sĩ có thể cần đến một số phương pháp khác để hỗ trợ chẩn đoán:

  • Chụp khung đại tràng: Một số dấu hiệu có thể thấy thông qua hình ảnh như đại tràng dạng ống chì, hẹp đại tràng, phình giãn đại tràng…
  • Xét nghiệm máu: Hematocrit thường giảm, Protein phản ứng C tăng, máu lắng tăng…
  1. Điều trị viêm loét đại trực tràng chảy máu như thế nào?

4.1 Nguyên tắc điều trị

  • Đối với các trường hợp chưa từng điều trị: Khởi đầu 1 loại thuốc, đánh giá đáp ứng dựa vào triệu chứng lâm sàng sau 10- 15 ngày;
  • Đối với trường hợp đã hoặc đang điều trị có đợt tiến triển nặng: Bắt đầu lại điều trị bằng 2 loại thuốc đang điều trị và kết hợp thêm 1 loại thuốc khác;
  • Trường hợp đã được điều trị và ngừng điều trị lâu: Điều trị khởi đầu như trường hợp chưa được điều trị, nên bắt đầu điều trị bằng loại thuốc khác;
  • Trường hợp thể nhẹ tổn thương tối thiểu ở trực tràng và đại tràng sigma nên kết hợp thêm thuốc điều trị tại chỗ viên đặt hậu môn và thuốc thụt;
  • Điều trị gồm có điều trị tấn công và điều trị duy trì.

4.2 Điều trị nội khoa

  • Sử dụng thuốc theo chỉ định và sự hướng dẫn của bác sĩ;
  • Truyền máu cho bệnh nhân nếu như đại trực tràng bị xuất huyết nặng gây ra thiếu máu, tụt huyết áp để bù vào lượng máu đã mất;
  • Chế độ ăn uống cần được điều chỉnh, cần tuân thủ chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng, lựa chọn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa. Kiêng các loại thức ăn nhiều dầu mỡ, rau sống, đồ uống có cồn, thức ăn cay nóng.

Chế độ dinh dưỡng và điều trị triệu chứng
=> Mức độ nhẹ hoặc vừa: Nên chọn thức ăn mềm, hạn chế chất xơ tạm thời;
=> Mức độ nặng:

  • Nhịn ăn hoàn toàn;
  • Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch bằng đạm toàn phần, dung dịch acid béo, đường, đảm bảo 2500 Kcalo/ngày;
  • Bổ sung sắt, axit folic 1mg/ngày nếu dùng thuốc 5- ASA kéo dài;
  • Bồi phụ nước điện giải.
  • Phân lỏng: Dùng các thuốc bọc niêm mạc;
  • Đau bụng: Dùng các thuốc giảm co thắt.

4.4 Điều trị ngoại khoa

Cắt đoạn đại tràng hay cắt toàn bộ đại tràng chỉ định khi:

  • Thủng đại tràng;
  • Phình giãn đại tràng nhiễm độc;
  • Chảy máu ồ ạt mà điều trị nội khoa thất bại;
  • Ung thư hóa hoặc dị sản mức độ nặng.
  1. Lưu ý cho người bệnh

Bệnh nhân nên ăn thức ăn mềm khi điều trị bệnh.
Người bệnh cần kiểm tra sức khỏe định kỳ. Khi phát hiện có rối loạn đại tiện, thay đổi tính chất phân như phân có máu, không khuôn, đau bụng nhiều thì cần đến ngay các cơ sở y tế để kiểm tra và điều trị kịp thời. Tránh để đến tình trạng muộn như đi đại tiện 2 – 3 ngày liền, mất máu thì việc điều trị sẽ trở nên khó khăn, tốn kém hơn. Theo dõi thường xuyên 6 tháng một lần bằng nội soi đại tràng, sinh thiết đại tràng, đại tràng sigma để phát hiện giai đoạn đầu của tiến triển ung thư.

Cần quan tâm tới chế độ ăn uống hàng ngày. Bệnh nhân nên ăn những thức ăn mềm, ít chất xơ như cơm nhão, cháo, thịt nạc, cá, sữa đậu nành, lưu ý tránh ăn rau sống, bắp…

Hạn chế căng thẳng quá mức khiến bệnh thêm trầm trọng, nên thư giãn, không sử dụng các chất kích thích, uống đủ nước. Đây cũng là những biện pháp giảm nguy cơ mắc bệnh đối với những người khỏe mạnh.

Lưu ý: Những thông tin cung cấp trong bài viết của Bệnh viện TRĨ TÂM AN chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa. Để biết chính xác tình trạng bệnh lý, bệnh nhân cần tới các bệnh viện để được bác sĩ thăm khám trực tiếp, chẩn đoán và tư vấn phác đồ điều trị hợp lý.

Thời gian qua, Bệnh viện Trĩ Tâm An đã tư vấn và điều trị thành công nhiều bệnh nhân trĩ độ 1. Khi bạn hoặc người thân bị bệnh này, nên đến khám và điều trị tại bệnh viện Trĩ Tâm An để được tư vấn và điều trị.

Zalo Chỉ đường đến Tâm An Hotline: 0977 33 55 99 Hotline: 0978 798 828